BỨC TRANH NỀN KINH TẾ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN QUÝ 4 2023

I. Kinh tế thế giới:

a. Lãi suất điều hành:

Hiện tại, với tình hình lãi suất cao nhất lịch sử kể từ 1 thập kỉ qua, các chuyên gia nhận định rằng Cục Dữ Trữ Liên Bang Mỹ Fed sẽ không còn tăng lãi suất nữa, mà sẽ bước vào giao đoạn neo cao lãi suất, ép lạm phát về mốc mục tiêu 2%.

Gần 100% phiếu dự đoán lãi suất giữ nguyên vào tháng 11

b. Giá vàng:

Chiến tranh Israel và Hamas nổ ra dẫn đến nhu cầu vàng tăng cao. Giá vàng tăng cao sẽ 1 phần thể hiện rủi ro thị trường tài chính trong ngắn hạn và làm suy yếu đồng USD.

Dự đoán giá vàng sẽ được giao dịch trong vùng 1800usd/ounce đến 2000usd/ounce.

Giá vàng tăng mạnh

c. Trái phiếu chính phủ 10 năm của Mỹ:

Trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh và vượt đỉnh kể từ 2019. Hiện đà tăng này vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.
Việc trái phiếu chính phủ tăng mạnh thể hiện chính sách hút tiền, kiềm chế lạm phát.

Do trái phiếu chính phủ hiện ở mốc cao nên việc nâng lãi suất là không cần thiết khi các điều kiện vay và lãi suất đang thắt chặt.

Với sức ép từ trái phiếu chính phủ và lãi suất neo cao, việc lạm phát quay về 2% chỉ là vấn đề thời gian.

Trái phiếu chính phủ Mỹ 10 năm

Tổng kết:

Lãi suất neo cao mốc 5.25-5.5%, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ 10 năm tăng mạnh kèm với giá vàng trở lại đường đua,… các chính sách thắt chặt dòng tiền này sẽ khiến cho thị trường tài chính thế giới bước vào giai đoạn ảm đạm.

Dow Jones

Dow Jones theo dự đoán sẽ tiến về vùng 31700. Do nền kinh tế bị thắt chặt và thiếu động lực từ dòng tiền nên Dow Jones sẽ có xác suất cao tạo biên đi ngang cho suốt 2024 trước khi Fed hạ lãi suất.

II. NỀN KINH TẾ VÀ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC:

a. Trái phiếu chính phủ 10 năm của Việt Nam:

Hiện Việt Nam đang theo đuổi chính sách nới lỏng có kiểm soát, nên lãi suất nhìn chung sẽ không tăng nữa mà đang trên đà giảm dần.

Tuy nhiên, do tình hình rủi ro ngắn hạn từ các biến số vĩ mô thế giới ảnh hưởng nên trái phiếu chính phủ 10 năm đang trên đà tăng mạnh trở lại.

Việc tăng lợi suất trái phiếu chính phủ kết hợp hạ lãi suất sẽ giúp Việt Nam cân bằng các mục tiêu:

+ Cân bằng tỉ giá

+ Kiểm soát các rủi ro ngắn hạn và sự bất ổn từ vĩ mô thế giới

+ Kiểm soát dòng tiền

+ Không quá thắt chặt chi tiêu từ thị trường thông qua việc kết hợp hạ lãi suất

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-31-1024x423.png

Lợi tức trái phiếu chính phủ 10 năm tăng mạnh

b. Giá cả hàng hóa và nguyên liệu đầu vào:

Hiện giá thép cán nóng và thép cốt thép có dấu hiệu tạo đáy rõ ràng cũng như là đang tăng trở lại. Điều này sẽ ảnh hưởng tích cực lên các doanh nghiệp thép của Việt Nam như Hòa Phát và Hoa Sen.

Giá thép cán nóng tạo đáy

Giá thép thanh cốt tạo đáy trong biên độ 3582-3800

c. Đầu tư công:

Việc gói giải ngân đầu tư công vào cuối quý 4 2023 kì vọng tăng 20% so với quý 3 sẽ là động lực lớn cho ngành đầu tư công trong nước và ngành thép.

Vốn giải ngân đầu tư công dự kiến tăng 20% trong quý 4

TỔNG KẾT:

Với tình hình các doanh nghiệp trong nước thông qua dự án và báo cáo lợi nhuận tăng trưởng, ta có thể thấy tình hình kinh doanh các doanh nghiệp đã bước qua giai đoạn khó khăn nhất.

Theo các số liệu vi mô của từng ngành, ví dụ thuế thu bất động sản tạo đáy và tăng nhẹ trở lại, theo đó là tỉ lệ vay margin của các công ty chứng khoán tăng,… kèm các số liệu vĩ mô như lãi suất giảm cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã bước qua giai đoạn suy thoái.

Tuy nhiên, do vẫn chưa có động lực lớn phát triển và tình hình bất ổn của vĩ mô thế giới nên nền kinh tế sẽ cần thời gian để phục hồi và khởi sắc.

III. NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN:

Việc kết hợp các chính sách tài khóa, và rủi ro ngắn hạn từ các chỉ số vĩ mô, thì thị trường tài chính trong nước sẽ không có động lực tăng mạnh, mà chủ yếu là đi ngang trong biên độ.

Hiện VNINDEX đã giảm xấp xỉ 13% từ đỉnh, về 1075. Tuy nhiên, vẫn có xác suất rất thấp là đà giảm vẫn có thể tiếp tục, đưa VNINDEX về vùng 1020-1035 trước khi tạo biên đi ngang đến hết quý 3 2024.

Biểu đồ VNINDEX

Thị trường nhìn chung có sự phân hóa rất mạnh giữa các cổ phiếu, có những cổ phiếu đã giảm hơn 30% nhưng có cổ chỉ giảm dưới 15%. Tình trạng mỗi cổ phiếu sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố nội tại doanh nghiệp.