BÁO CÁO VĨ MÔ THÁNG 8 – Arrow Capital Vietnam

  1. Giá nguyên vật liệu, giá xăng dầu trong nước và dự phóng IIP

Hiện tại, dầu Brent theo khung thời gian lớn đang trong giai đoạn giảm giá từ mốc gần 120 đô/thùng xuống còn tương đương 83 đô/thùng, (theo mốc thời điểm báo cáo này được thực hiện; hiện tại giá Brent đã là 86,7 đô/thùng). Bên cạnh đó, việc cắt giảm nhập khẩu dầu của Trung Quốc giảm mạnh hơn dự kiến 5% xuống còn 12%, điều này sẽ làm cho giá dầu có động lực tiếp tục giảm trong thời gian tới. Mỹ hiện tại cũng tăng sản lượng dầu khoảng 850,000 bpd, lên đến tổng 12,76 triệu bpd để kìm chế giá dầu lại trước sự ảnh hưởng của việc cắt giảm sản lượng của khối Ả Rập Saudi. 

Biểu đồ giá dầu Brent 

Nguồn: tradingeconomics

Biểu đồ giá dầu WTI

Nguồn: tradingeconomics

Giá xăng RON95

Với những động lượng trên, giá dầu có thể được giao dịch trong khoảng 75-87 đô/thùng (theo các chuyên gia). Từ đây, việc ổn định giá dầu Brent, 1 trong các nguyên liệu đầu vào quan trọng cho ngành công nghiệp của Việt Nam, sẽ mang lại những lợi ích lâu dài và ổn định cho việc phục hồi nền kinh tế.  

Biểu đồ giá thép thế giới

Nguồn: tradingeconomics

Biểu đồ giá quặng sắt

Nguồn: tradingeconomics

Giá thép tăng lên theo giá thị trường chủ yếu vì kì vọng nhu cầu thép từ Trung Quốc khi Bắc Kinh mở cửa nền kinh tế. Điều này không đồng pha với tình hình nhu cầu trong nước khiến cho giá thép tăng cao mặc cho tiêu dùng thấp. Tuy nhiên tình hình giá thép tiếp tục tăng cao sẽ không thể kéo dài vì yếu tố cung cầu không được thỏa mãn. Trong dài hạn, có thể giá thép vẫn tiếp tục giảm hoặc ổn định ở mốc 3400 trước khi nhu cầu thị trường quay trở lại. 

Với tình hình trong nước, giá xăng ổn định ở mốc 23000 đến 24000 là động lực ổn định CPI và tình hình sản xuất nói chung của đất nước. 

Chỉ số IIP Việt Nam ở mức thấp chủ yếu là do sự ảnh hưởng của giá nguyên vật liệu, trong trường hợp giá dầu được ổn định trong thời gian dài, dẫn đến các sản phẩm đầu ra được bán đi với giá phù hợp với cầu của thị trường nhằm kích thích nhu cầu quay trở lại và các doanh nghiệp sản xuất tăng trưởng sản lượng đầu ra. Từ những yếu tố trên, ta có thể kì vọng IIP tăng trưởng.

Biểu đồ chỉ số IIP

Nguồn: tradingeconomics, vietcap, vietstock

  1. Diễn biến tỉ giá và dự đoán lãi suất

Với tình hình Fed tăng lãi suất lên đến 5.5% trong tháng vừa qua đã gây áp lực không nhỏ lên tỉ giá, hiện tại tỉ giá USDVND đã tăng 1,16% kể từ tháng 6 2023 và dự kiến sẽ còn tăng lên đến mốc 28300. 

DXY tăng trở lại khi lãi suất của Mỹ tăng lên 5.5% khiến cho nhiều đồng tiền tệ khác giảm mạnh, gây sức ép lên tỉ giá, trong đó có Yên Nhật (USDJPY). Dẫu rằng xu hướng chính của đồng USD vẫn là xu hướng giảm, nhưng với sự suy yếu của các đồng tiền tệ khác, đặc biệt là Yên Nhật, thì việc DXY có rủi ro thay đổi xu hướng sẽ là một biến cố cần được cân nhắc.  Ngoài ra, hiện Nhật Bản đang phải đối mặt với lạm phát khi nước này đã duy trì chính sách nới lỏng trong thời gian Mỹ nâng cao lãi suất, nên tỉ giá USDJPY dự đoán sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới. 

Bên cạnh đó, CPI của Mỹ đang ở mức tương đương 3.2%, vẫn còn khá xa so với mục tiêu 2% của Fed đề ra, nên có thể quý 3 này Fed còn 1 đợt tăng lãi suất nữa trước khi vào đà giảm đến 2024. 

Biểu đồ diễn biến CPI của Mỹ

Nguồn: investing

Biểu đồ sức mạnh đồng Đô La Mỹ DXY

Nguồn: tradingview

Biểu đồ tỉ giá Nhật và đồng USD

Nguồn: tradingview

Bảng so sánh CPI của Mỹ qua từng năm và CPI của EU qua từng năm, lãi suất Fed và ngân hàng trung ương EU

Nguồn: tradingeconomics, vietcap, investing

  1. Diễn biến giá vàng

Do tình hình tăng lãi suất và đồng USD trở nên hấp dẫn mà giá vàng đã quay đầu giảm. Dự đoán nếu DXY xác định thay đổi xu hướng chính và tiếp tục tăng trưởng thì giá vàng có thể quay về mốc 1814 trong tương lai. Điều này dự báo rủi ro ngắn hạn trong thị trường vốn.

Trái phiếu chính phủ Mỹ tăng trở lại đỉnh cũ, 4,32%. Việc trái phiếu chính phủ tăng thể hiện rủi ro ngắn hạn của thị trường nói chung. 

Ở một bức tranh khác, trái phiếu chính phủ của Việt Nam vẫn trên đà giảm, thể hiện tính hiệu quả của việc kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, với áp lực của đồng USD trong tương lai thì ta cần phải cẩn thận quan sát diễn biến các biến số vĩ mô của thị trường kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. 

Biểu đồ lãi suất trái phiếu chính phủ  Việt Nam 10 năm

Biểu đồ lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ 10 năm

Biểu đồ giá vàng thế giới

Nguồn: tradingeconomics, tradingview

  1. Đầu tư công

Đầu tư công năm 2023 được đẩy mạnh, cụ thể trong 2 quý đầu năm 2023, gói giải ngân đầu tư công đã cao hơn 20% so với 2 quý đầu 2022, khoảng 232,22 nghìn tỉ (đạt khoảng 40% so với mục tiêu đề ra của năm là 750 nghìn tỉ)

Dự án tiêu biểu là sân bay Long Thành với gói thầu trị giá 35 ngìn tỉ và liên danh đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật là liên danh Ventur.

Với dòng tiền hỗ trợ mạnh từ ngân sách nhà nước và các dự án chưa được thực hiện từ 2022 đang chờ xử lý, và với nỗ lực tháo gỡ chính sách hỗ trợ tiến trình thực hiện của năm nay, dự kiến đầu tư công sẽ là chiêu bài mũi nhọn để tăng trưởng kinh tế trong 2023 đến 2024 và đồng thời thu hút vốn FDI đầu tư.

  1. Bất động sản

Thị trường bất động sản (BĐS) đang trải qua khó khăn nhưng có kỳ vọng vào sự hồi phục trong trung và dài hạn, được thúc đẩy bởi các động thái tháo gỡ vướng mắc từ Nhà nước về chính sách pháp lý, giảm lãi suất, và tăng cường giải ngân vốn đầu tư công.

  1.  Nguồn Cung Sụt Giảm:
  • Nguồn cung mới giảm 25% so với năm trước, còn 1.610 căn, đều thuộc Hạng C.
  • Giai đoạn tiếp theo trong năm, nguồn cung từ các dự án hiện hữu là 875 căn, cộng thêm 735 căn từ hai dự án mới.
  • Nguồn cung sơ cấp đạt 6.820 căn, giảm 15% theo quý nhưng tăng 68% theo năm.
  • Một số chủ đầu tư tạm dừng hoặc giảm nguồn cung mới trên thị trường sơ cấp.
  1.  Lượng Bán Chậm:
  • Lượng bán giảm 38% theo quý và 71% theo năm, chỉ còn 865 căn trong quý đầu năm 2023.
  • Nguồn cung mới chiếm 43% thị phần.
  • Dự án Hạng B và Hạng C thu hút nhiều người mua hơn.
  • Hạng C chiếm thị phần lớn nhất với 67% lượng bán, Hạng B chiếm 27%, và Hạng A chỉ chiếm 6% (giảm 76% theo quý).
  1. Tỷ Lệ Hấp Thụ:
  • Tỷ lệ hấp thụ theo quý là 13%, giảm 4 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 60 điểm phần trăm so với năm trước.
  • Nguyên nhân là nhu cầu căn hộ giá hợp lý tăng cao, trong khi nguồn cung sơ cấp có giá cao.
  • Căn hộ giá từ 6 tỷ VNĐ chiếm 59% nguồn cung sơ cấp, nhưng lượng căn hộ giá hợp lý có hạn, chỉ 2.800 căn (41%).

Những khó khăn trên chủ yếu là do tình hình lãi suất cho vay cao, tín dụng bị hạn chế và khan hiếm nguồn cung bất động sản tầm trung. Tuy vậy, đến cuối năm, dự kiến nguồn cung tương lai sẽ có thêm 9.000 căn. Hạng B sẽ chiếm 71% thị phần, Hạng C sẽ có 23% thị phần và Hạng A sẽ có 6% thị phần. Đến năm 2026, 137.540 căn từ 186 dự án sẽ được mở bán. 

Biểu đồ giao dịch bất động sản nhà ở tại HCM

Nguồn: Savills

  1. Bất động sản bán lẻ:
  • Nguồn cung bán lẻ tăng trưởng 1% theo quý và cả năm lên 1.5 triệu m2 diện tích cho thuê.
  •  Công Suất Giảm:
  • Công suất ở mức cao 92% và ổn định theo quý, nhưng giảm -0,4 điểm phần trăm so với năm trước.\
  • Khách thuê tiếp tục để trống và không gia hạn hợp đồng tại các dự án ở ngoại ô.
  • Lượng khách qua lại thấp do vị trí thuê không thuận lợi, chính sách tiếp thị không hiệu quả và quản lý từ chủ đầu tư không tốt.

Biểu đồ giao dịch bất động sản thương mại tại HCM

Nguồn: Savills

  • Tình hình bất động sản nói chung đang ngừng giảm giá. Tính đến cuối năm 2023, nhiều ngân hàng dự kiến sẽ giảm lãi suất cho vay, giúp cải thiện thanh khoản của thị trường căn hộ TP.HCM. Nhiều tín hiệu tích cực như hoàn thiện tuyến Metro, gỡ vướng pháp lý cho các dự án BĐS cũng dự kiến sẽ đẩy mạnh sự phục hồi của thị trường BĐS trong năm 2024.
  • Hàng tồn kho của các doanh nghiệp bất động sản đăng tăng lên so với đầu năm, tiêu biểu là của Novaland tăng lên 139.010 tỷ đồng, tăng 3% so với đầu năm. Cụ thể, giá trị tồn kho bất động sản đang xây dựng gần 127.800 tỷ đồng, trong đó có các khoản chi phí tiền sử dụng đất, tư vấn thiết kế, xây dựng và các chi phí khác liên quan đến các dự án.
  • Với nhiều dự án tồn kho, giá bất động sản cũng đã ngừng đà giảm và trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu tư, các doanh nghiệp đang thanh toán dần các khoản vay trái phiếu trước đó và việc kích thích thanh khoản thị trường quay trở lại kênh đầu tư này, dự báo các doanh nghiệp bất động sản đã trải qua giai đoạn khó khăn nhất và đang trên đà phục hồi. Bên cạnh đó, lượng giao dịch bất động sản đã bắt đầu ổn định đi ngang từ tháng 5 2023. Các tín hiệu cần chờ đợi chính là lãi suất cho vay có sự điều chỉnh giảm, cũng như là yếu tố tiên quyết giúp các doanh nghiệp khai thông nguồn vốn. 

Biểu đồ lượng hấp thu bất động sản của Việt Nam

Nguồn: wichart

  1. Ngân hàng

Hưởng lợi từ việc lãi suất tăng từ đầu 2023 và việc điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, NIM của ngân hàng được cải thiện đáng kể.

Hiện tăng trưởng tín dụng của Việt Nam đã giảm xuống 7.8%, thấp hơn so với tháng 6. điều này thể hiện sự suy yếu dần của nền kinh tế và hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, ta có thể hiểu theo một cách khác là các doanh nghiệp đang ưu tiên chi trả nợ trái phiếu trước đó và các hoạt động đầu tư sẽ đi chậm lại, chờ cơ hội tăng trưởng sắp tới. Việc này giống như thị trường đi vào giai đoạn tích lũy chứ không hẳn là giai đoạn thoái trào. Một lý do khác cho việc tăng trưởng tín dụng yếu là do lãi cho vay vẫn còn cao, điều này rất phù hợp cho tình trạng vĩ mô hiện nay của Việt Nam khi nợ xấu bao phủ thị trường và các ngân hàng phải lấy dự án để siết nợ. 

Trong tương lai gần, vào khoảng quý 4 2023 và đầu năm 2024, khi các doanh nghiệp đã ổn định vấn đề trái phiếu và nhu cầu mua bất động sản quay lại mạnh mẽ, thì tăng trưởng tín dụng sẽ quay trở lại. Lúc đó, biên lợi nhuận ngân hàng sẽ tăng trưởng mạnh mẽ; còn trong giai đoạn từ giờ đến quý 4 2023 thì lợi nhuận ngân hàng sẽ ở mức ổn định và tăng nhẹ. 

Từ những yếu tố trên, việc đầu tư vào ngân hàng sẽ chỉ được coi là 1 kênh trú ẩn với tỉ suất sinh lời cao hơn những kênh trú ẩn khác. 

Biểu đồ tăng trưởng tín dụng Việt Nam

  1. Lãi suất, trái phiếu và vốn FDI

Vốn FDI đăng kí mới đã tăng trở lại từ tháng 5 2023 từ 2% đến hơn 2.8% trong tháng 7 2023. Do tình hình lãi suất cao, nên lượng vốn FDI được phân bổ năm 2023 giảm nhẹ so với 6 tháng đầu năm 2022, tuy nhiên tình hình lãi suất Việt Nam được cải thiện kèm với chính sách tài khóa hiệu quả nên số lượng FDI đăng kí đã tăng cao hơn so với cùng kì năm ngoái, tương đương 16%. Điều này hứa hẹn sự hồi phục kinh tế trong thời gian tới.

Biểu đồ mô tả lượng vốn FDI đăng kí và được phân bổ

Nguồn: vietcap, vietstock

  1. Bảng tài chính ngành
  • Ngành Khu Công Nghiệp (IPs): Chúng tôi tiếp tục duy trì sự lạc quan về khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong tương lai. IDC và LHG vẫn là lựa chọn hàng đầu nhờ vào nguồn đất sạch sẽ ở miền nam nước ta. Chúng tôi cũng thêm KBC vào danh sách top pick nhờ tiềm năng phát triển trong FDI công nghệ cao, thay thế cho PHR. Ngoài ra, phần lớn vốn FDI đều đổ vào các ngành công nghiệp ở Việt Nam, kế đó mới là bất động sản. Đây là tiền đề cho việc tạo thanh khoản trong thời kì khó khăn như ngày nay. Cụ thể là ngành công nghiệp chiếm 63% và bất động sản chiếm 11,4% tổng vốn FDI. 
  • Xây Dựng Và Vật Liệu: Chúng tôi cho rằng giá cổ phiếu trong lĩnh vực này đã tăng quá nhanh so với tình hình thực tế. Sự tăng trưởng được dự đoán đã trì hoãn đến cuối năm 2023, và chúng tôi đã loại bỏ HPG và BMP khỏi danh sách ưu tiên. Chúng tôi sẽ tìm kiếm cơ hội mua lại HPG sau khi giá cổ phiếu điều chỉnh.
  • Hạ Tầng Và Hàng Không: Cổ phiếu trong ngành này đã tụt lại so với thị trường tổng thể trong nửa đầu năm 2023. Hiệu suất của cổ phiếu hàng không đặc biệt là thất vọng, mặc dù số lượng du khách quốc tế đang phục hồi mạnh mẽ. Chúng tôi tiếp tục duy trì GMD và SCS là những lựa chọn hàng đầu trong ngành.
  • Sản Xuất Công Nghiệp: Mặc dù nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã tăng giá trong nửa đầu năm 2023, chúng tôi nhận thấy rằng sự giảm trí xuất khẩu đã ảnh hưởng đến hiệu suất của ngành này. Chúng tôi loại bỏ DHC và STK khỏi danh sách ưu tiên, duy trì DGC và thêm TLG.
  • Dầu Và Khí: Chúng tôi xác định PVS là lựa chọn hàng đầu trong ngành dầu và khí, nhờ triển vọng tăng trưởng từ hợp đồng M&C trong lĩnh vực năng lượng gió biển và khai thác biển thông thường.
  • Năng Lượng Tái Tạo Và Tiện Ích Công Nghiệp: Chúng tôi nhận thấy năng lượng tái tạo vẫn là một chủ đề cơ cấu mạnh mẽ. Chúng tôi chọn REE là lựa chọn hàng đầu cho nửa cuối năm 2023, cùng với BWE trong lĩnh vực tiện ích cung cấp nước.
  • Bất động sản: Với sự cố gắng trong việc tháo gỡ khó khăn cho ngành bất động sản, kèm với những chính sách như gia hạn lô trái phiếu, chỉnh sửa các chính sách về dự án thi công, và đặc biệt là việc hạ lãi suất tiền gửi khai thông dòng vốn hiện nay hứa hẹn tạo thanh khoản cho các doanh nghiệp bất động sản và tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành các dự án đang thi công dở dang, thì ngành bất động sản nói chung hứa hẹn sẽ quay trở lại trường đua. Theo nhận định của chúng tôi, dòng tiền đầu tư và đầu cơ từ thị trường sẽ đổ về các cổ phiếu bất động sản trong biên tích lũy và chưa tăng mạnh, đặc biệt là NLG với mức phục hồi 7% trong nửa đầu năm 2023. Các cổ phiếu như DIG cần thời gian để tạo nền và tích lũy trong tương lai gần. Những cổ phiếu nổi tiếng khác như NVL có thể quan sát khi nhìn chung, NVL đang ở biên dưới nền.

Tính từ đầu năm 2019, cổ phiếu nhóm tài chính đã tăng trưởng 200%, cao nhất so với thị trường chung. Vị trí số 2 là nhóm ngành công nghệ, trong khi bất ngân hàng chỉ có khoản 70% và haoaps nhất là bất động sản khi chưa có sự khởi sắc so với 2019.

So với đầu năm 2023, nhóm tài chính vẫn dẫn đầu hồi phục khoảng 50%, kế đến là nhóm vật liệu cơ bản. Ngân hàng nhìn chung cũng chỉ mới hồi phục 20% và bất động sản  là 10%.

Những đặc điểm trên cho thấy nhóm bất động sản nhìn chung vẫn trong giai đoạn tích lũy và đang chờ đợi kì vọng tăng trưởng mạnh.

Biểu đồ tăng trưởng của mỗi ngành và VNINDEX từ 2019

Biểu đồ tăng trưởng của từng ngành và VNINDEX trong 2023

Bảng so sánh sức mạnh tăng trưởng của từng ngành và VNINDEX trong 6 tháng đầu năm 2022 và 2023

Biểu đồ tổng hợp sự tăng trưởng của cổ phiếu từng ngành trong 6 tháng đầu năm 2023 và phân bổ lượng vốn FDI trong từng ngành, vùng miền

Nguồn: vietcap

Nhận định đầu tư: 

Do các biến cố về vĩ mô như lãi suất và tỉ giá, thì việc thị trường chung có những pha điều chỉnh là việc khó tránh khỏi. Dòng tiền kì vọng sẽ đổ vào các ngành, các cổ phiếu đang trong giai đoạn tích lũy thay vì những ngành và cổ phiếu đã tăng nóng. Những doanh nghiệp cơ cấu nợ tốt và có lượng hàng tồn kho hợp lý sẽ là có cơ hội tăng trưởng trong giai đoạn nền kinh tế ổn định trở lại.

Ngành đầu tư công và bất động sản năm nay vẫn sẽ là những ngôi sao và được nhiều kì vọng từ các nhà đầu tư. 

Lưu ý: số liệu được cập nhật từ thời điểm báo cáo được thực hiện nên sẽ có sự chênh lệch các số liệu, quý đọc giả cần theo dõi số liệu mới để ra quyết định đầu tư phù hợp.
Bảng báo cáo này không phải khuyến nghị mua bán nên miễn trừ mọi trách nhiệm có liên quan.

Tải bảng PDF dưới đây